Trên đất khó, việc đầu tiên của vườn cây ăn trái không phải là chọn cây mà là sửa cái giới hạn lớn nhất của mảnh đất: đất trũng thì đào mương lên liếp hoặc đắp mô để rễ khỏi ngập, đất dốc thì trồng theo đường đồng mức, làm bậc và băng chắn để giữ đất, đất cát ven biển thì tăng mùn, phủ gốc giữ ẩm và dựng hàng chắn gió. Làm xong phần nền ấy, bộ cây chọn cho vườn mới có cơ hội sống khoẻ; bỏ qua thì cây nào cũng gắng gượng.
Không phải ai cũng có mảnh vườn bằng phẳng, đất thịt tơi, nước vừa đủ. Đất được chia ở quê có khi là ruộng trũng, sườn đồi, hay dải cát gần biển. Những mảnh đất này vẫn làm vườn gia đình được, và ở nhiều vùng ông bà ta đã làm từ lâu với những cách rất khéo. Bài này đi qua từng dạng đất khó hay gặp, theo góc nhìn người chủ lên kế hoạch vườn. Chuyện chọn phân bón, cải tạo đất quy mô sản xuất thuộc về các trang chuyên về nông nghiệp.
Nhận ra cái khó thật sự của mảnh đất mình
Đất khó thường không chỉ khó một thứ. Một mảnh ruộng trũng ở đồng bằng có thể vừa ngập mùa mưa vừa nhiễm phèn; một sườn đồi trung du vừa dốc vừa nghèo mùn, lẫn sỏi đá ong; một dải cát ven biển vừa khô, vừa nghèo dinh dưỡng, vừa hứng gió mặn. Việc đầu tiên là gọi tên đúng cái khó lớn nhất, vì nó quyết định cách bố trí cả vườn.
Vài cách quan sát đơn giản giúp nhận ra: sau trận mưa lớn, nước đọng bao lâu và đọng ở đâu; nước trong mương, ao có váng vàng gỉ sắt hay vị chua chát không, dấu hiệu thường gặp của đất phèn; đất mặt có bị trôi thành rãnh sau mưa không; cầm đất lên bóp thấy rời rạc như cát hay dính bết như sét; cây cỏ mọc tự nhiên trên đất là loại gì. Hỏi người trồng lâu năm ở xung quanh vẫn là nguồn thông tin tốt nhất.
Nếu muốn chắc hơn, có thể lấy mẫu đất đi phân tích ở các đơn vị có dịch vụ phân tích đất, hoặc hỏi cán bộ khuyến nông ở xã. Kết quả cho biết độ chua, mức mùn, mức mặn nếu có, giúp quyết định cải tạo bao nhiêu là đủ. Với vườn gia đình vài chục gốc, quan sát kỹ cộng với kinh nghiệm hàng xóm thường đã đủ để bắt đầu.
Đất trũng: lên liếp, đào mương, đắp mô
Ở đồng bằng sông Cửu Long, cách làm vườn trên đất trũng quen thuộc nhất là đào mương lên liếp: đào những đường mương song song, lấy đất đắp lên dải đất giữa hai mương thành liếp cao hơn mặt nước mùa mưa. Cây trồng trên liếp, rễ nằm trong lớp đất ráo; mương vừa thoát nước mùa mưa vừa trữ nước ngọt tưới mùa khô, và là nơi nuôi cá, đi xuồng. Nhiều vườn còn có bờ bao và cống để chủ động giữ hoặc tháo nước khi lũ lên, khi triều cường.
Kích thước liếp và mương tuỳ vùng, tuỳ độ trũng và loại cây; cây sợ ngập như sầu riêng, cây có múi cần liếp cao hơn cây chịu ẩm như mận, ổi, dừa. Ở vùng đất phèn, điều người làm vườn lâu năm hay dặn là không đào quá sâu rồi lật lớp đất phèn ở dưới lên mặt liếp, vì lớp đó gặp không khí sẽ chua thêm, cây khó sống. Nhiều nơi lên liếp từng đợt, để mưa rửa bớt phèn rồi mới trồng.
Với một mảnh đất trũng nhỏ ở các vùng khác, không đủ chỗ đào mương, có thể đắp mô cho từng gốc: vun một ụ đất cao và rộng, đặt cây lên ụ, đào rãnh thoát nước xung quanh. Mô cần đủ rộng để rễ phát triển nhiều năm, và phải được bồi thêm hằng năm vì đất mô hay sụt dần.
Đất dốc: trồng theo đường đồng mức, giữ từng lớp đất
Trên sườn đồi, kẻ thù lớn nhất là xói mòn: mỗi trận mưa lớn cuốn đi một ít đất mặt, sau vài năm gốc cây trơ rễ, đất còn lại nghèo và cứng. Nguyên tắc chung là trồng theo đường đồng mức, tức những đường nối các điểm cùng độ cao trên sườn, thay vì trồng thẳng hàng từ trên xuống dưới. Hàng cây và các bờ chắn chạy ngang sườn sẽ làm nước mưa chậm lại và giữ đất.
Có thể xác định đường đồng mức bằng dụng cụ đơn giản tự làm như thước chữ A có treo quả dọi, hoặc ống nước trong đổ nước để so mức. Dọc các đường đó, tuỳ độ dốc, người ta làm ruộng bậc thang liên tục, hoặc chỉ làm bậc nhỏ cho từng gốc cây, mặt bậc hơi nghiêng vào trong để giữ nước. Giữa các hàng cây ăn trái trồng băng cỏ hay cây phân xanh chạy ngang sườn, vừa chắn đất trôi vừa cho vật liệu phủ gốc.
Đất dốc cũng ảnh hưởng tới việc đi lại và vận chuyển. Lối đi nên chạy chéo theo sườn với độ dốc vừa phải, có rãnh thoát nước bên cạnh để không biến thành dòng chảy khi mưa. Kho, chỗ ủ phân, chỗ sơ chế trái nên đặt ở phía trên hoặc gần lối xe vào, để mang vật nặng xuống dốc thay vì lên dốc. Sườn quá dốc thì nên giữ rừng hoặc cây che phủ, chỉ trồng cây ăn trái ở phần thoải.
Đất cát ven biển: giữ nước, giữ mùn, chắn gió
Đất cát thoát nước rất nhanh, giữ phân kém, nóng lên mạnh vào buổi trưa. Ở các dải cát ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ, thêm gió mạnh mang hơi muối. Vườn gia đình ở đây thường bắt đầu bằng hàng cây chắn gió phía biển, như phi lao, các cây bụi chịu mặn, rồi mới tới cây ăn trái ở phía trong được che chở.
Cải tạo đất cát là việc nhiều năm: liên tục đưa vào chất hữu cơ như phân chuồng hoai, phân ủ, rơm rạ, lá cây; phủ gốc dày để giảm bốc hơi và giữ nhiệt độ đất ổn hơn; tưới ít một và nhiều lần, hoặc nhỏ giọt, vì tưới nhiều một lần nước sẽ thấm qua lớp rễ rất nhanh. Hố trồng trên đất cát thường được làm rộng và trộn thêm đất thịt, mùn để cây có chỗ bám ban đầu.
Chọn cây cũng quan trọng hơn ở nơi khác. Những cây được trồng nhiều trên đất cát ven biển như dừa, điều, xoài, mãng cầu, ổi, thanh long ở vùng khô, cho thấy cây nào chịu được điều kiện ấy. Cây ưa đất ẩm, mát, giàu mùn như sầu riêng, măng cụt thường không hợp. Hỏi xem hàng xóm nhiều năm nay trồng gì sống khoẻ là cách chọn ít rủi ro nhất.
Bốn dạng đất khó và việc nền nên làm trước
Bảng sau tóm tắt các dạng đất khó hay gặp ở vườn gia đình và hướng xử lý ở mức nguyên lý. Mỗi vùng còn có kinh nghiệm riêng, nên đối chiếu với người làm vườn tại chỗ:
| Dạng đất | Cái khó chính | Việc nền nên làm trước | Hướng chọn cây |
|---|---|---|---|
| Trũng, ngập mùa mưa | Rễ ngập, thối rễ | Đào mương lên liếp hoặc đắp mô, mở rãnh thoát | Cây sợ ngập trồng nơi cao nhất của liếp |
| Phèn | Đất chua, nước chua | Lên liếp nông, rửa phèn qua mùa mưa, giữ nước ngọt | Cây chịu phèn khá trồng trước, cây khó tính sau |
| Dốc, xói mòn | Đất mặt trôi, nghèo mùn | Trồng theo đường đồng mức, làm bậc, băng chắn, phủ đất | Cây rễ sâu, tán vừa; sườn quá dốc để cây che phủ |
| Cát ven biển | Khô, nghèo, gió mặn | Hàng chắn gió, bổ sung hữu cơ, phủ gốc, tưới nhỏ giọt | Cây chịu hạn, chịu gió đã thấy sống khoẻ quanh vùng |
Ngoài bốn dạng này còn có đất sét bí, nước khó thấm, hay đất đồi lẫn sỏi đá ong ở trung du. Với đất sét, hướng chung là nâng luống, đào rãnh thoát và đưa vào nhiều chất hữu cơ để đất tơi dần; với đất sỏi đá ong, hố trồng cần đào rộng, thay bớt đất và phủ gốc dày. Nguyên tắc chung vẫn là sửa nền trước, chọn cây sau.
Vì sao đất khó lại hợp với vườn gia đình
Nghe thì đất khó là bất lợi, nhưng với vườn vài chục gốc, nó có những điểm riêng. Quy mô nhỏ cho phép làm kỹ từng gốc: đắp mô, làm bậc, phủ gốc, những việc mà vườn sản xuất lớn khó làm đều tay. Một gia đình có thể bỏ công vài mùa khô để làm nền một lần, rồi hưởng nhiều năm sau.
Đất khó cũng buộc người chủ chọn cây hợp đất thay vì chạy theo cây đang được nhiều người trồng. Vườn trên đất cát với dừa, xoài, mãng cầu, ổi; vườn trên liếp phèn với dừa, mận, ổi, chuối; vườn đồi với nhãn, vải, na, hồng ở miền Bắc, đều là những vườn gia đình có thật ở nhiều vùng. Chúng có thể không giống những vườn trái cây đặc sản nổi tiếng, nhưng đủ trái cho nhà và bền.
Điều cần tránh là bỏ nhiều công và vật liệu để biến hẳn một mảnh đất thành loại đất khác, chẳng hạn chở hàng trăm khối đất từ nơi khác về phủ lên đất cát để trồng cây ưa ẩm. Việc đó tốn kém, khó bền và vẫn phải chống chọi với khí hậu vùng. Cải tạo vừa phải cộng với chọn cây đúng thường đi xa hơn.
Một lợi thế ít người để ý là đất khó buộc cả nhà cùng làm. Những mùa khô đào mương, đắp mô, kéo dây đo đường đồng mức thường là những mùa người trong nhà nhớ lâu, và đứa trẻ từng phụ cha mẹ đắp liếp sẽ hiểu vườn nhà hơn bất cứ cuốn sách nào.
Trình tự lập vườn trên đất khó
Dù là đất trũng, dốc hay cát, trình tự làm của người chủ vườn đi theo các bước gần giống nhau:
- Đi đất qua ít nhất một mùa mưa, ghi lại chỗ ngập, chỗ trôi đất, hướng gió, nguồn nước.
- Gọi tên cái khó lớn nhất và hỏi người trồng lâu năm quanh vùng cách họ xử lý.
- Làm phần nền trước: mương liếp, mô, bậc, băng chắn, hàng chắn gió, tuỳ dạng đất. Việc đào đắp nên làm vào mùa khô.
- Để đất ổn định qua một mùa mưa nếu có thể, quan sát lại xem nền đã đủ chưa.
- Chọn bộ cây hợp đất; trồng đợt đầu bằng những cây chịu đựng tốt nhất, cây khó tính hơn trồng sau khi đất đã được cải thiện.
- Giữ lớp phủ đất quanh năm và bồi thêm chất hữu cơ hằng năm, vì cải tạo đất khó là việc liên tục chứ không làm một lần là xong.
Ghi chép từng bước vào nhật ký vườn, kể cả những gì không hiệu quả. Đất khó dạy người chủ nhiều nhất trong ba bốn năm đầu, và những ghi chép này giúp năm sau làm đỡ hơn năm trước.
Câu hỏi thường gặp
Đất ruộng trũng có lên vườn cây ăn trái được không?
Được, và nhiều vườn ở đồng bằng sông Cửu Long chính là ruộng được đào mương lên liếp từ lâu. Điều kiện là liếp phải đủ cao so với mực nước mùa mưa, có đường thoát và nguồn nước ngọt. Ở vùng có phèn, nên lên liếp nông, rửa phèn qua mùa mưa và hỏi kinh nghiệm hàng xóm trước khi trồng cây khó tính.
Làm sao biết đất vườn mình có phèn?
Dấu hiệu thường gặp là nước trong mương, ao có váng vàng gỉ sắt, vị chua chát, đất lớp dưới có những vệt vàng khi đào lên. Để chắc hơn có thể đo độ chua của đất hoặc gửi mẫu phân tích. Cán bộ khuyến nông ở xã và người trồng lâu năm quanh vùng thường cũng nhận biết được.
Đất dốc bao nhiêu thì không nên trồng cây ăn trái nữa?
Không có một con số áp cho mọi nơi vì còn tuỳ loại đất và lượng mưa. Nguyên tắc chung là sườn càng dốc càng cần làm bậc, băng chắn kỹ, và phần quá dốc nên giữ rừng hay cây che phủ. Nếu đi lại trên sườn đã khó và đất trôi mạnh sau mỗi trận mưa thì không nên khai thác thêm.
Trồng cây ăn trái trên đất cát ven biển nên chọn cây gì?
Nên chọn những cây đã thấy sống khoẻ quanh vùng, thường là cây chịu hạn, chịu gió như dừa, điều, xoài, mãng cầu, ổi, thanh long ở vùng khô. Trước đó cần dựng hàng chắn gió phía biển, bổ sung chất hữu cơ và phủ gốc giữ ẩm. Cây ưa ẩm mát như sầu riêng, măng cụt thường không hợp.
Có nên chở đất về đổ lên để trồng cho nhanh không?
Đổ thêm đất vào hố trồng hay đắp mô là hợp lý, nhưng phủ cả vườn bằng đất chở từ nơi khác thường tốn kém, khó bền và có thể mang theo hạt cỏ dại, mầm bệnh. Cách bền hơn là cải tạo từ từ bằng chất hữu cơ, phủ đất, và chọn cây hợp với đất sẵn có.
Đắp mô cho từng gốc cây cần lưu ý gì?
Mô cần đủ rộng để rễ lan trong nhiều năm, không chỉ vừa bầu cây giống. Đất mô hay sụt dần nên phải bồi thêm hằng năm, đồng thời giữ rãnh thoát nước quanh mô thông thoáng. Phủ rơm lá lên mặt mô giúp giữ ẩm mùa khô và hạn chế mưa làm trôi đất.